Chi tiết tin

A+ | A | A-

Phát huy vai trò của già làng, người có uy tín trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Người đăng: Nguyễn Thanh Dương Ngày đăng: 10:07 | 28/06/2026 Lượt xem: 204

1. Đặt vấn đề

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống thông tin cơ sở về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các sự kiện lớn của đất nước”[1] và tinh thần của Bộ Chính trị tại Kết luận 65-KL/TW, ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” nhất quán quan điểm phát triển toàn diện, bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi,  thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó, một nội dung quan trọng được nhấn mạnh là phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng, đặc biệt là già làng, người có uy tín trong tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Sau khi thực hiện sáp nhập, thành phố Đà Nẵng có không gian phát triển rộng lớn, bao gồm cả vùng đô thị hiện đại và khu vực miền núi với đông đồng bào DTTS sinh sống, trở thành bộ phận quan trọng trong tổng thể phát triển của địa phương. Tuy nhiên, khu vực này vẫn còn nhiều khó khăn, kết cấu hạ tầng hạn chế, tỷ lệ hộ nghèo cao, trình độ dân trí chưa đồng đều, khả năng tiếp cận pháp luật còn thấp. Do đó, việc tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) cho đồng bào DTTS tại vùng DTTS và miền núi của thành phố là nhiệm vụ cấp thiết, mang ý nghĩa chiến lược lâu dài.

Trong bối cảnh đó, phát huy vai trò của già làng, những người có uy tín trong cộng đồng, không chỉ là yêu cầu thực tiễn mà còn là sự cụ thể hóa quan điểm của Đại hội XIV, góp phần đưa pháp luật vào đời sống, giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển bền vững.

2. Nội dung

2.1. Khái quát vùng DTTS và miền núi của thành phố Đà Nẵng

Hiện nay, Đà Nẵng  có tổng số có 30 xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi; trong đó miền núi cao có 28 xã. Như vậy, Sau sáp nhập, vùng DTTS và miền núi của địa phương có quy mô lớn hơn nhiều so với trước đây, với các đặc điểm chủ yếu là: địa bàn rộng, địa hình phức tạp, nhiều khu vực vùng sâu, vùng xa, giao thông còn khó khăn, Dân số DTTS đông, có hơn 37 dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 5,5% dân số toàn thành phố. Có 4 nhóm thành phần dân tộc chính định cư từ lâu đời như Cơ Tu, Co, Xê Đăng, Gié Triêng (ở Quảng Nam), người Hoa, Cơ Tu (ở Đà Nẵng)… sống theo cộng đồng làng bản, có tính cố kết cao, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao hơn mặt bằng chung. Trình độ dân trí và hiểu biết pháp luật hạn chế, nhất là ở vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn. Phong tục, tập quán truyền thống còn ảnh hưởng sâu rộng, trong đó có cả yếu tố tích cực và những hủ tục lạc hậu cần xóa bỏ: tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống…

2.2. Sự cần thiết phải đẩy mạnh PBGDPL cho đồng bào DTTS vùng DTTS và miền núi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Công tác PBGDPL cho đồng bào DTTS tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi của thành phố Đà Nẵng có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp bà con nhân dân nơi đây nâng cao  về dân trí, xây dựng con người mới, phát triển bền vững vùng DTTS, đảm bảo quản lý xã hội hiệu quả sau sáp nhập, giúp người dân hiểu và chấp hành pháp luật, phòng ngừa vi phạm pháp luật, nhất là trong lĩnh vực đất đai, bảo vệ rừng, hôn nhân gia đình, an ninh trật tự, xóa bỏ hủ tục lạc hậu, xây dựng đời sống văn hóa mới, ngăn chặn các thế lực xấu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để gây mất ổn định. Vì vậy, cần phải đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động, phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn, trong đó coi trọng vai trò của lực lượng tại chỗ.

Mặt khác, vùng đồng bào DTTS và miền núi của thành phố Đà Nẵng có diện tích chiếm 3/4 diện tích toàn thành phố, có 157,42 km đường biên giới tiếp giáp nước Lào, là địa bàn xung yếu về quốc phòng, an ninh; trong khi đó, các tôn giáo đang có xu hướng đẩy mạnh phát triển lên địa bàn vùng miền núi (các huyện vùng cao của tỉnh Quảng Nam cũ: như Tây Giang, Nam Trà My, Phước Sơn, Đông Giang) và diễn biến ngày càng phức tạp.

2.3. Vai trò của già làng, người có uy tín trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi thành phố Đà Nẵng

Ở vùng đồng bào DTTS và miền núi của thành phố Đà Nẵng, nhất là những khu vực biên giới, quan hệ giao lưu văn hoá với xã hội bên ngoài một số khía cạnh còn hạn chế thì già làng, người có uy tín là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, có tiếng nói quyết định trong cộng đồng, tạo sự đồng thuận xã hội, họ càng được quần chúng kính nể nghe theo và vai trò của họ càng lớn,  vừa là người lãnh đạo của quần chúng nhân dân trong làng, bản, vừa là quần chúng “đặc biệt” có uy tín, hiểu phong tục, tập quán, ngôn ngữ, giúp truyền đạt pháp luật phù hợp, dễ tiếp thu. Tham gia hòa giải cơ sở, giữ gìn an ninh trật tự, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, Đại hội XIV yêu cầu phải phát huy vai trò người có uy tín, chức sắc, chức việc trong cộng đồng trong tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật. Đây chính là cơ sở chính trị quan trọng để phát huy vai trò già làng, người có uy tín trong PBGDPL. Vì vậy, phát huy vai trò của già làng, người có uy tín tham gia tích cực vào tuyên truyền pháp luật, vận động Nhân dân, góp phần giảm vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh trật tự, tham gia hòa giải nhiều vụ việc ngay từ cơ sở. Trong những năm qua, thành phố đã có những chính sách để hổ trợ, quan tâm người có uy tín theo Quyết định số 12/2018/QĐ- TTg và Quyết định 28/2023/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ[2]. Tuy nhiên, một số nơi chưa phát huy hết vai trò, kiến thức pháp luật còn hạn chế, chính sách hỗ trợ chưa tương xứng, phương thức tuyên truyền còn đơn điệu.

2.4. Giải pháp phát huy vai trò của già làng, người có uy tín trong thời gian đến

Một là, thành phố cần xây dựng chương trình riêng về phát huy người có uy tín, trong đó có già làng lồng ghép trong chiến lược phát triển vùng DTTS. Ban hành Đề án riêng về phát huy vai trò già làng, người có uy tín trong PBGDPL trên địa bàn thành phố Đà Nẵng gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển vùng DTTS, xác định rõ vai trò, nhiệm vụ cụ thể theo từng lĩnh vực pháp luật, phân công trách nhiệm cấp ủy, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể.

Hai là, nâng cao năng lựchiểu biết về pháp luật và kỹ năng tuyên truyền cho già làng, người có uy tín theo chuyên đề như:  Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Lâm nghiệp, Phòng chống tảo hôn, bạo lực gia đình... đúng theo tinh thần chỉ đạo của Quốc hội về nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cho công dân nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng: “Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”[3]. Đồng thời, đổi mới cách tập huấn theo hướng gắn gọn, dễ hiểu, tình huống thực tế, có phiên dịch tiếng dân tộc

Ba là, hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ và tạo điều kiện hoạt động cho già làng, người có uy tín. Trong thực tiễn, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đối với già làng, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật: “Nhà nước có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, già làng, người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương[4]song mức độ đãi ngộ và điều kiện bảo đảm hoạt động vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với vai trò, vị trí và những đóng góp thực tế của đội ngũ già làng, người có uy tín. Điều này phần nào ảnh hưởng đến tính bền vững và hiệu quả trong việc phát huy vai trò của họ trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở. Do đó, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng thiết thực, phù hợp với điều kiện sau sáp nhập là yêu cầu cấp thiết, cần tập trung vào các nội dung sau:

Điều chỉnh theo hướng nâng mức hỗ trợ, phụ cấp hàng tháng đối với già làng, người có uy tín bảo đảm tương xứng với khối lượng công việc và trách nhiệm xã hội mà họ đảm nhận. Việc hỗ trợ không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn thể hiện sự ghi nhận chính trị của Nhà nước đối với vai trò đặc biệt của họ trong hệ thống chính trị cơ sở.

Có cơ chế hỗ trợ kinh phí phục vụ hoạt động tuyên truyền pháp luật, nhất là chi phí đi lại tại các địa bàn miền núi rộng, giao thông khó khăn. Đồng thời, quan tâm trang bị các phương tiện cần thiết như loa cầm tay, tài liệu tuyên truyền, và đặc biệt là điện thoại thông minh nhằm phục vụ yêu cầu chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Việc trang bị phương tiện không chỉ nâng cao hiệu quả truyền thông mà còn giúp già làng, người có uy tín tiếp cận nhanh chóng với các chủ trương, chính sách mới.

Thực hiện tốt các chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh và bảo hiểm đối với già làng, người có uy tín. Đây là giải pháp mang ý nghĩa nhân văn mà còn góp phần duy trì sự ổn định của lực lượng nòng cốt trong cộng đồng.

Định kỳ tổ chức hội nghị gặp mặt, đối thoại giữa lãnh đạo cấp ủy, chính quyền với già làng, người có uy tín qua đó kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tháo gỡ khó khăn, đồng thời cung cấp thông tin chính thống về tình hình kinh tế – xã hội và các quy định pháp luật mới. Đây cũng là kênh quan trọng để củng cố niềm tin, tăng cường sự gắn kết giữa chính quyền với nhân dân thông qua vai trò trung gian của người có uy tín.

Bốn là, phát huy vai trò của già làng, người có uy tín gắn với đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền pháp luật. Chuyển từ: “đọc văn bản” sang “giải thích đời sống” , từ “áp đặt”, bắt buộc phải thực hiện sang “thuyết phục”, cảm hoá, lấy sự nêu gương, niềm tin của bà con vào người có uy tín thì hiệu quả trong tuyên truyền sẽ cao hơn

Bên cạnh đó, hình thức tổ chức tuyên truyền của già làng, người có uy tín cũng cần đa dạng, phong phú, tập trung lồng ghép vào các buổi họp thôn, lễ hội, sinh hoạt cộng đồng, lồng ghép bằng những câu chuyện, ví dụ thực tế, phong tục, luật tục  đã được cải biên. Nên sử dụng tiếng dân tộc  mình để người dân dễ tiếp cận, gắn hình ảnh trực quan, video ngắn trong tuyên truyền đỡ nhàm chán, thu hút sự chú ý lắng nghe của bà con.

Năm là, khi khoa học công nghệ phát triển, chuyển đổi số thì vai trò của già làng, người có uy tín trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật bị suy giảm, tuy nhiên chúng ta biết cách khai thác việc tăng cường ứng dụng cộng nghệ thông tin cho già làng, người có uy tín trong việc thực hiện công tác này thì hiệu quả cũng rất cao và giá trị. Cụ thể, lãnh đạo địa phương cần trang bị cho họ Smartphone, hỗ trợ, tập huấn cho họ các kỹ năng về công nghệ số, sử dụng điện thoại thông minh, lập ra các nhóm Zalo/Facebook cộng đồng, cung cấp video, hình ảnh, tình huống về pháp luật  để họ tuyên truyền đến cho người dân, nhất là đối với  thế hệ thanh niên trẻ trên địa bàn

Sáu là, tôn vinh, khen tặng những người uy tín tiêu biểu và tham gia tích cực trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương để lan toả những giá trị tích cực, tạo động lực thi đua trong cộng đồng

Bảy là, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là cần thiết, tạo nên sức mạnh tổng hợp, phát huy tối đa hiệu quả của các lực lượng. Đó là sự phối hợp giữu già làng- công an- tư pháp- Mặt trận và các thành viên của Mặt trận.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, NXB Chính trị Sự thật.

2. Ban Chấp hành Trung ương (2019), số 65-KL/TW, về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc trong tình hình mới

3. Quốc hội (2012): Luật Phổ biến, Giáo dục pháp luật, số 14/2012/QH13, thông qua ngày 20/6/2012

4. Sở Dân tộc và Tôn giáo, Báo cáo số 790/BC-SDTTG, ngày 30/6/2025, Công tác dân tộc và tôn giáo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng sau sáp nhập và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm.

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, tập I, tr.312

[2] Sở DT và Tôn giáo (2025): Báo cáo số 790/BC-SDTTG, ngày 30/6/2025, công tác dân tộc và tôn giáo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng sau sáp nhập và nhiệm vụ trọng tâm 06 tháng cuối năm 2026: tỉnh Quảng Nam (cũ) giao 700.000.000 đồng; đã thăm hỏi, hỗ trợ ốm đau, nằm viện và đón tiếp đoàn người có uy tín trong đồng bào DTTS tỉnh Hà Giang (31.200.000 đồng).

[3] Quốc hội (2012): Luật Phổ biến, Giáo dục pháp luật, Số 14/2012/QH13, thông qua ngày 20/6/2012, Điều 10

[4] Quốc hội (2012): Luật Phổ biến, Giáo dục pháp luật, Số 14/2012/QH13, thông qua ngày 20/6/2012, Điều 17

Tác giả: Nguyễn Thị Hiệp, Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng

Nguồn tin: Sở Dân tộc và Tôn giáo

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Thông tin người phát ngôn

Ông: Nguyễn Mạnh Hà

Chức vụ: UVBTV-Giám đốc Sở

Số điện thoại: 0982707997

Email: nguyenmanhha@danang.gov.vn

Văn bản công tác dân tộc

Liên Kết Website

Thăm dò ý kiến

Bạn cảm thấy website của chúng tôi như thế nào ?

Lượt truy cập

Tổng số lượt truy cập

000059277