1. Ra đời trong lòng tổ chức Đảng
Cách đây 80 năm, ngày 03/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký sắc lệnh số 58 thành lập Bộ Nội vụ, bao gồm nhiều cơ quan, trong đó có Nha Dân tộc thiểu số - tiền thân của Bộ Dân tộc và Tôn giáo ngày nay. Sắc lệnh là tiền đề cho cơ quan làm công tác dân tộc ra đời và phát triển, với nhiệm vụ nghiên cứu và giải quyết mọi vấn đề liên quan đến các dân tộc thiểu số trên toàn cõi Việt Nam trên nguyên tắc “bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc”. Ngày 14/10/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1491/QĐ-TTg, lấy ngày 03/5 hàng năm là Ngày truyền thống của Cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc, đây là mộc son đánh dấu ngày truyền thống của cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực công tác dân tộc.

Đồng chí Trần Học Giới – Trưởng Phòng Quốc dân thiểu số trực thuộc Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng (Ảnh: tư liệu).
Tháng 6 năm 1946, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Quảng Nam quyết định thành lập Phòng Quốc dân thiểu số trực thuộc Tỉnh ủy đóng tại Hội An (tiền thân của Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố) do đồng chí Trần Học Giới làm Trưởng phòng với nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu Tỉnh ủy, Ủy ban Hành chính tỉnh mọi vấn đề liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chiến lược xây dựng miền Tây Quảng Nam. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt, thể hiện niềm tin lớn của các cấp ủy Đảng, chính quyền và Nhân dân vào vai trò của công tác dân tộc nói chung, cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc nói riêng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trong suốt chặng đường lịch sử vẻ vang 80 năm qua, hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc của thành phố Đà Nẵng tuy có bước thăng trầm nhưng đã gắn liền với nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử cách mạng, từ Phòng Quốc dân thiểu số (Tháng 6/1946), Phòng Liên lạc quốc dân thiểu số (Tháng 12/1946), Ban Cán sự miền Tây tỉnh Quảng Nam (Tháng 10/1953), Ban Cán sự Đảng khu Nam Trà và Ban Cán sự Đảng khu Lam Sơn (Tháng 3/1970 đến Tháng 3/1975), Ban Miền núi Tỉnh ủy (Tháng 3/1975), Ban Xây dựng Miền núi (Tháng 12/1985 đến Tháng 01/1997), Ban Dân tộc và Miền núi (Tháng 01/1997 đến Tháng 7/2004), Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam (Tháng 8/2004 đến Tháng 02/2025); Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Nam (Tháng 3/2025 đến Tháng 6/2025), Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Đà Nẵng (Tháng 7/2025 đến nay); nhưng sứ mệnh của cơ quan công tác dân tộc thành phố luôn gắn chặt với các nhiệm vụ chính trị, luôn đồng hành cùng với bà con đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, kiên định lập trường chính trị, hình thành được đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chính trị được giao.

2. Trưởng thành trong phong trào đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, cơ quan công tác dân tộc của thành phố đã tập trung chỉ đạo và thực hiện ngay sứ mệnh chính trị của mình; tích cực tuyên truyền đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Mặt trận Việt Minh; vận động đồng bào theo Đảng, theo Bác Hồ; tích cực tham gia phong trào đấu tranh bảo vệ nền độc lập tự do, bảo vệ chính quyền còn non trẻ của đất nước; ngặn chặn và đập tan âm mưu của kẻ thù hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ “máu thịt” giữa đồng bào Kinh –Thượng. Qua đó, cơ quan công tác dân tộc đã góp phần rất quan trọng trong công tác xây dựng chính quyền cách mạng ở thôn, xã trên địa bàn vùng cao; mở rộng Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đi đến thành lập các châu Bến Hiên, Bến Giằng, Trà My, Phước Sơn.
Để hoàn thành nhiệm vụ chính trị, các thế hệ cán bộ tiền bối làm công tác dân tộc đã không ngại khó khăn gian khổ, vượt qua mọi gian truân, thử thách, bám sát Nhân dân, len lõi đến tận những bản làng, thôn, nóc cùng ăn, cùng ở, cùng lao động sản xuất để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, phong tục tập quán của đồng bào, qua đó tuyên truyền, vận động đồng bào giác ngộ cách mạng, vận động đoàn kết Kinh – Thượng, xoá bỏ hiềm khích, xoá bỏ các tập tục lạc hậu, tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, giành những tình cảm tốt đẹp nhất cho cách mạng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; tích cực chung tay, hỗ trợ cùng Mặt trận Việt Minh và cán bộ làm cách mạng bảo vệ đất nước.

Cán bộ Ban Cán sự miền Tây tỉnh Quảng Nam luyện tập bắn nỏ cùng đồng bào miền núi (Ảnh: tư liệu, năm 1953)
Đến cuối năm 1948, theo chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Phòng Liên lạc Quốc dân thiểu số chỉ đạo cán bộ xúc tiến việc thành lập Uỷ ban Kháng chiến – Hành chính các huyện Bến Hiên, Bến Giằng, Trà My, Phước Sơn; góp phần củng cố hệ thống chính quyền cách mạng, mở rộng hành lang kháng chiến, xây dựng hậu phương vững chắc, phục vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược tại các huyện vùng cao. Đồng thời, cơ quan công tác dân tộc đã tham mưu cho Tỉnh uỷ, Uỷ ban Kháng chiến - Hành chính tổ chức 2 khu kinh tế Kinh -– Thượng tại Phương Đông - Dương Yên (nay là xã Trà My – Trà Liên) và Bến Giằng (nay là xã Bến Giằng) nhằm tập trung phát triển kinh tế - xã hội vùng cao, cung cấp nhu yếu phẩm cho đồng bào và phục vụ yêu cầu của công cuộc kháng chiến, xây dựng vùng miền núi thành căn cứ địa cách mạng vững chắc của phong trào đấu tranh cách mạng, góp phần to lớn đưa đến thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược năm 1954. Từ những kết quả thực hiện được, ngay từ giai đoạn đầu hình thành và phát triển, cơ quan công tác dân tộc đã được Uỷ ban Kháng chiến – Hành chính nhận xét “đã nhìn thấy rõ nhiệm vụ trọng đại của mình, chủ động đề ra những chính sách cụ thể phù hợp với từng giai đoạn trong công tác vận động, đoàn kết đồng bào các dân tộc miền núi” .
Trong giai đoạn năm 1955-1973, khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ ngày càng khốc liệt thì vai trò trọng yếu của cơ quan công tác dân tộc càng được khẳng định. Nhằm đối phó với các âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, nhất là chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của chính quyền Ngô Đình Diệm, để xây dựng thế trận an toàn ở vùng miền núi, Ban Cán sự miền Tây đã chủ trương “quần chúng hoá” cán bộ Kinh, thực hiện “3 cùng” với đồng bào các dân tộc, thực hiện đóng khố, xâu tai, cà răng, choàng mền, mang gùi…nhằm vừa hoà mình vào quần chúng và vừa che tai mắt của địch. Nhờ đó, phong trào đấu tranh cách mạng phát triển mạnh mẽ, vừa xây dựng, phát triển cơ sở trong quần chúng, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế và nuôi dấu cán bộ. Đến giữa năm 1956, Ban Cán sự miền Tây đã đón và nuôi dấu 1.046 cán bộ cách mạng người Kinh tại các làng, nóc trong tình yêu thương, đùm bọc của đồng bào; càng làm cho đồng bào tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng và tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em trong phong trào đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược.
Sau năm 1960, phong trào đấu tranh cách mạng bước sang giai đoạn mới, kết hợp giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và sự nổi dậy của quần chúng để giành lấy quyền làm chủ. Nhờ sự lãnh đạo của Đảng, bản lĩnh chính trị và sách lược cách mạng đúng đắn, dưới sự lãnh đạo của Ban Cán sự miền Tây, Ban Cán sự Đảng uỷ Nam Trà, Ban Cán sự Đảng uỷ khu Lam Sơn, phong trào đấu tranh của Nhân dân vùng miền núi của thành phố nổ ra ở khắp nơi, kết hợp với các lực lượng đấu tranh ở miền xuôi giải phóng nhiều vùng trên địa bàn trước đây do địch chiếm đóng, đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ; góp phần quan trọng đưa đến thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp kháng chiến cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975. Các cuộc khởi nghĩa của đồng bào làng Ông Tía, huyện Phước Sơn ngày 13/3/1960; cuộc đấu tranh của đồng bào làng A Ró, xã Chà Vàl, huyện Bến Giằng ngày 28/3/1960; cuộc tấn công tại Dốc Gợp, huyện Bến Hiên ngày 15/10/1960; các cuộc tấn công đánh đồn Ga Lâu, đồn A Tép ở huyện Bến Hiên, đồn Bót Xít ở Bến Giằng vào 10/1960; cuộc khởi nghĩa và chiến thắng Khâm Đức- Ngok Tavak của lực lượng vũ trang và đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Phước Sơn tháng 5/1968... đã trở thành những mốc son chói lọi của lịch sử; hun đúc nên truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường, bất khuất của đồng bào các dân tộc thiểu số thành phố Đà Nẵng.
3. Góp phần bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng quê hương giàu đẹp
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Tỉnh ủy thành lập Ban Miền núi Tỉnh ủy, với nhiệm vụ tham mưu cho Tỉnh ủy kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề đặt ra ở vùng dân tộc, vừa khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa tập trung ổn định sản xuất, chăm lo đời sống Nhân dân, tuyên truyền, vận động đồng bào bài trừ các tập quán lạc hậu, xây dựng định canh, định cư, theo dõi, kiểm tra các chính sách như: cấp thuốc chữa bệnh, muối, dầu hỏa, chính sách miễn giảm thuế, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp; cải tiến và mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm người lao động, giải phóng đất đai, sức lao động, đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đồng bào dân tộc đã có nhiều cố gắng, khai hoang phục hoá, đầu tư thâm canh nhằm tăng nhanh năng xuất cây trồng vật nuôi, vượt qua khó khăn, tự túc lương thực, ổn định cuộc sống. góp phần bảo vệ vững chắc những thành quả cách mạng đã đạt được.

Đồng chí Nguyễn Mạnh Hà, UV BTV Thành ủy, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo ôn lại truyền thống 80 năm xây dựng, phát triển cơ quan quản lý nhà nước công tác dân tộc thành phố Đà Nẵng (03/5/1946-03/5/2026)
Trãi qua 80 năm xây dựng và phát triển, cơ quan làm công tác dân tộc các cấp trên địa bàn luôn làm tốt công tác tham mưu, ban hành chính sách giúp Thành ủy, HĐND, UBND thành phố chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chính sách đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Ngay sau khi thực hiện chia tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (năm 1997), Ban Dân tộc và Miền núi đã tham mưu kịp thời cho Tỉnh ủy, HĐND ban hành Nghị quyết chuyên đề “Một số chủ trương và giải pháp trọng tâm về dân tộc và miền núi giia đoạn 2002 – 2007; ban hành chiến lược và chương trình hành động thực hiện công tác dân tộc đến năm 2020; Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 17/8/2016, Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 20/7/2021 của Tỉnh uỷ Quảng Nam về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; định hướng một số dự án quan trọng tại vùng Tây tỉnh Quảng Nam; Nghị quyết số 21-NQ/TU ngày 10/02/2022 của Tỉnh uỷ Quảng Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số giai đoạn 2022 - 2025; Chỉ thị số 29-CT/TU ngày 06/7/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Nam về tăng cường lãnh đạo công tác dân tộc trong tình hình mới và nhiều chính sách khác.
Thông qua việc thực hiện các cơ chế, chính sách từ chương trình 134, 135 đã từng bước hình thành các trung tâm thị tứ vùng dân tộc thiểu số, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường, giảm nghèo một cách bền vững, từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa vùng dân tộc với đồng bằng, đô thị. Đã chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc của trung ương và của thành phố; trong giai đoạn từ 1996 đến năm 2007 đầu tư xây dựng 19 trung tâm cụm xã ở vùng cao, đã trở thành trung tâm cung cấp, giao lưu trao đổi hàng hoá của đồng bào các dân tộc trong vùng, tạo điều kiện để bố trí, sắp xếp lại các cụm dân cư, tổ chức sản xuất gắn vùng nguyên liệu với các cơ sở chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Sau hơn 25 năm thực hiện Chương trình 135 và 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã góp phần làm thay đổi căn bản, toàn diện kinh tế- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của thành phố. Nhất là, hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư ngày càng đồng bộ, đáp ứng được nhu cầu cơ bản của Nhân dân; mạng lưới trường học, cơ sở y tế được mở rộng và ngày càng hoàn thiện; hạ tầng điện chiếu sáng, nước sinh hoạt hợp vệ sinh được đầu tư đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân. Trên địa bàn, nhiều điểm, cụm công nghiệp, điểm du lịch- dịch vụ, các cơ sở thủ công nghiệp, chế biến nông – lâm sản, chế biến dược liệu được quy hoạch, đầu tư; nhiều làng nghề truyền thống của đồng bào được khôi phục, phát triển theo hướng xây dựng thương hiệu sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch sinh thái đã tạo ra hướng đi mới cho làng nghề và phát triển kinh tế- xã hội bền vững ở vùng miền núi thành phố; công tác giao đất giao rừng, hỗ trợ nhà ở, đào tạo nghề và xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số đạt những kết quả tích cực.

Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Đà Nẵng tặng Bức trướng với dòng chữ “Đoàn kết – Trách nhiệm – Kỷ cương – Sáng tạo” cho cơ quan Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố.
Có thể khẳng định, việc thực hiện tốt công tác dân tộc và các chính sách dân tộc đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế-xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số từ bỏ hẳn tập quán đốt rừng làm nương rẫy, chuyển sang sản xuất thâm canh, biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi, đời sống đồng bào từng bước ổn định và phát triển; tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 9%/năm, thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số đến hết năm 2025 đạt trên 24 triệu đồng, tăng 2,1 lần so năm 2020, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền. Công tác phát triển nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số được đặc biệt quan tâm, thực hiện đồng bộ trong quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, tuyển dụng và bố trí cán bộ; nhờ đó, bài toán xây dựng nguồn nhân lực phục vụ phát triển vùng miền núi từng bước được giải quyết hiệu quả.

Các thế hệ lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước công tác dân tộc chụp hình lưu niệm cùng đại biểu dự Chương trình Lễ kỷ niệm 80 Ngày truyền thống cơ quan công tác dân tộc
Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển, cơ quan công tác dân tộc thành phố đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển chung của thành phố và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thành tựu đạt được là nhờ sự chung tay của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp Nhân dân, trong đó có sự cống hiến, hy sinh, và nỗ lực, phấn đấu không ngừng nghỉ của các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm công tác dân tộc trên địa bàn thành phố. Nhằm ghi nhận những thành tựu to lớn đó, cơ quan công tác dân tộc của thành phố đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng 01 Huân chương Thành đồng Tổ quốc, 02 Huân chương Chiến công giải phóng Hạng ba, 03 Huân chương Chiến công giải phóng Hạng nhì; năm 2004, được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng III, và nhiều phần thưởng cao quý khác. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống cơ quan quản lý nhà nước công tác dân tộc (03/5/1946-03/5/2026), Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Đà Nẵng đã tặng Bức trướng với dòng chữ “Đoàn kết – Trách nhiệm – Kỷ cương – Sáng tạo” cho cơ quan Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố.