Chi tiết tin

A+ | A | A-

Phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã ở miền núi thành phố Đà Nẵng: từ thực trạng cơ cấu đến kiến nghị chính sách

Người đăng: Nguyễn Thanh Dương Ngày đăng: 14:13 | 10/08/2026 Lượt xem: 98

Chuyên đề tập trung phân tích thực trạng về cơ cấu và trình độ đào tạo của cán bộ lãnh đạo chủ chốt tại 28 xã miền núi đặc biệt khó khăn thuộc thành phố Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những ưu điểm nổi bật cũng như nhận diện những hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ ở các xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn thành phố Đà Nẵng.

Chuyên đề nghiên cứu tiến hành khảo sát về cơ cấu, chất lượng các chức danh lãnh đạo chủ chốt ở 28 xã miền núi đặc biệt khó khăn của thành phố Đà Nẵng dựa trên các báo cáo của Ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng vào tháng 4-2026 gồm: bí thư và phó bí thư đảng ủy xã; chủ tịch và phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã; chủ tịch và phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã; chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã. Có 6 vị trí việc làm với 196 người được thống kê cụ thể theo bảng dưới đây.

 

Bảng 1: Thống kê về đội ngũ cán bộ, công chức 28 xã miền núi của thành phố Đà Nẵng

Vị trí việc làm

Số đối tượng thống kê

Độ tuổi

Giới tính

Dân tộc thiểu số

Có quê quán tại xã đảm nhiệm chức vụ

Trình độ đào tạo

Trình độ lý luận chính trị

Dưới 42

42-52

Trên 52

Nam

Nữ

Thạc sĩ

Đại học

Cao cấp

Trung cấp

Bí thư, chủ tịch HĐND

28

0

17

11

22

6

11

0

14

14

28

0

Phó bí thư thường trực

28

3

21

4

21

7

13

9

14

14

28

0

Phó bí thư, chủ tịch UBND

28

3

16

9

28

0

8

2

13

15

28

0

Chủ tịch UBMTTQVN

28

4

21

3

15

13

17

10

5

23

24

4

Phó chủ tịch HĐND

28

2

23

3

24

4

17

10

8

20

24

4

Phó chủ tịch UBND

56

7

40

9

52

4

22

8

26

30

54

2

Tổng số

196

19

138

39

162

34

88

39

80

116

186

10

Tỷ lệ %

100

9,7

70,4

19,9

82,6

17,4

44,9

19,9

40,8

59,2

94,9

5,1

Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp từ báo cáo của các xã của Ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng, tháng 4-2026

 

 

1.Cơ cấu

1.1.Theo độ tuổi

Theo Bảng 1, tổng số cán bộ lãnh đạo, quản lý được thống kê là 196 người, phân bố qua 3 nhóm tuổi: Nhóm từ 42-52 tuổi chiếm ưu thế tuyệt đối với 138 người, chiếm tỷ lệ 70,4%. Nhóm trên 52 tuổi có 39 người, chiếm tỷ lệ 19,9%. Nhóm dưới 42 tuổi có 19 người, chiếm tỷ lệ 9,7%.

Tỷ lệ cán bộ trẻ dưới 42 tuổi chưa đạt đến 10%, cho thấy công tác trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo chủ chốt tại địa bàn miền núi cần được quan tâm hơn, tránh khoảng trống thế hệ, hụt hẫng đội ngũ kế cận. Theo Quy định số 377-QĐ/TW của Bộ Chính trị, ngày 08-10-2025 về phân cấp quản lý cán bộ và quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, tạm đình chỉ công tác, cho thôi chức vụ, từ chức, miễn nhiệm đối với cán bộ đã quy định hệ số, số lượng và cơ cấu quy hoạch cán bộ trẻ (dưới 47 tuổi đối với các cơ quan Trung ương; dưới 42 tuổi đối với cấp tỉnh, cấp xã) từ 15% trở lên. Do đó, việc thực hiện công tác cán bộ, nhất là đào tạo, bồi dưỡng cần quan tâm, chăm lo hơn đội ngũ cán bộ trẻ dưới 42 tuổi ở khu vực này.

Bảng 2: Độ tuổi cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý của cấp xã thành phố và 28 xã miền núi

Số xã, phường

Tổng số cán bộ

Dưới 42 tuổi

Từ 42 đến 52 tuổi

Trên 52 tuổi

Số người

Tỷ lệ %

Số người

Tỷ lệ %

Số người

Tỷ lệ %

Cấp xã TP

278

32

11,5

194

69,7

52

18,8

Xã MN

84

6

7,1

54

64,3

24

28,6

Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp từ báo cáo của Ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng, tháng 4-2026 và Đề án số 03-ĐA/TU, ngày 07-5-2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng về đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phường, xã, đặc khu đến năm 2030 và những năm tiếp theo, tr.7.

Qua Bảng 2, so sánh đội ngũ cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt phường, xã thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý (gồm: bí thư, phó bí thư đảng ủy, chủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch Ủy ban nhân dân) của riêng 28 xã miền núi với 93 xã, phường của Đà Nẵng: nhóm cán bộ trên 52 tuổi ở miền núi chiếm tới 28,6% (24 người), trong khi tỷ lệ chung của toàn thành phố ở nhóm tuổi này chỉ là 18,8% (52 người). Tỷ lệ cán bộ lớn tuổi tại khối xã miền núi cao hơn mặt bằng chung toàn thành phố gần 10%. Điều này chỉ ra rằng khu vực miền núi đang có xu hướng “già hóa” đội ngũ lãnh đạo chủ chốt cao hơn mặt bằng chung. Một mặt, nhóm này mang lại sự ổn định, kinh nghiệm giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo và đất đai, tài nguyên khá phức tạp ở vùng cao. Mặt khác, tỷ lệ này lớn cũng đặt ra áp lực về việc chuẩn bị nhân sự thay thế, kế cận trong 1–2 nhiệm kỳ tới.

Hơn nữa, nhóm cán bộ trẻ dưới 42 tuổi ở 28 xã miền núi chỉ có 6 người, chiếm tỷ lệ thấp 7,1%. Trong khi đó, tỷ lệ cán bộ trẻ chung toàn thành phố đạt 11,5% (32 người). Tỷ lệ cán bộ chủ chốt trẻ tuổi ở miền núi thấp hơn mức trung bình toàn thành phố tương đối nhiều (chênh lệch 4,4%). Số liệu này phản ánh thực tế khó khăn trong công tác thu hút, luân chuyển hoặc tạo nguồn cán bộ trẻ có đủ năng lực, sẵn sàng nhận nhiệm vụ đứng đầu cấp ủy, chính quyền tại địa bàn vùng cao, vùng biên giới, vùng đồng bò dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

Trong khi đó, nhóm tuổi từ 42 đến 52 tuổi tại 28 xã miền núi chiếm 64,3% (54 người), so với tỷ lệ chung toàn thành phố là 69,7% (194 người). Dù thấp hơn mức trung bình chung khoảng 5,4%, đây vẫn là lực lượng chiếm tỷ trọng áp đảo (gần 2/3 tổng số cán bộ). Sự tập trung cao ở nhóm tuổi này đảm bảo bộ máy lãnh đạo xã miền núi Đà Nẵng đang được vận hành bởi một đội ngũ có “độ chín” về kinh nghiệm thực tiễn và khả năng lãnh đạo, quản lý.

Như vậy, so sánh với mặt bằng chung về độ tuổi với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã toàn thành phố cho thấy cơ cấu độ tuổi cán bộ chủ chốt 28 xã miền núi đang có sự “lệch pha” nhất định theo hướng: ít cán bộ trẻ hơn và nhiều cán bộ lớn tuổi hơn.

1.2. Theo giới tính, thành phần dân tộc và tính bản địa

1.2.1. Giới tính

Theo thống kê ở Bảng 1, đội ngũ cán bộ, công chức 28 xã miền núi đặc biệt khó khăn, nam giới chiếm 82,6% (162 người), trong khi nữ giới chỉ chiếm 17,4% (34 người). Phụ nữ tham gia lãnh đạo chủ yếu ở vị trí chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (13 người) hoặc phó bí thư thường trực (7 người). Ở vị trí điều hành trực tiếp và áp lực nhất là chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, tỷ lệ nữ giới là 0%. Điều này cho thấy công tác cán bộ nữ tại các xã miền núi vẫn có những rào cản nhất định.

Điểm đáng chú ý, cán bộ của 93 xã, phường thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý có 53/278 người nữ, tỷ lệ 20%. Trong khi đó cán bộ nữ thuộc diện này của 28 xã miền núi là 13/84 người, tỷ lệ 15,5%. Sự chênh lệch 4,5% cho thấy công tác phát triển, bố trí cán bộ nữ giữ các chức danh lãnh đạo đứng đầu tại khu vực miền núi đang gặp nhiều hạn chế và thách thức hơn so với các khu vực đồng bằng, đô thị của Đà Nẵng. Điều này khiến nguồn cán bộ nữ sẵn sàng đảm nhiệm hoặc được quy hoạch vào các vị trí chủ chốt diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý tại đây trở nên ít hơn.

Việc tỷ lệ cán bộ nữ chủ chốt tại khối xã miền núi đạt 15,5% cho thấy mục tiêu nâng cao tỷ lệ nữ tham gia vào cấp ủy và chính quyền cơ sở theo Nghị quyết số 14-NQ/TU, ngày 07-5-2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phường, xã, đặc khu thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 và những năm tiếp theo vẫn cần nhiều nỗ lực để đạt được mục tiêu.

1.2.2. Thành phần dân tộc và tính bản địa

Cũng theo Bảng 1, cán bộ thuộc dân tộc thiểu số chiếm tới 44,9% (88 người). Trong khi đó, số cán bộ có quê quán tại chính xã mình đảm nhiệm chức vụ là 19,9% (39 người). Đây là một điểm sáng lớn trong cơ cấu cán bộ của Đà Nẵng: Tỷ lệ gần 45% cán bộ lãnh đạo là người đồng bào dân tộc thiểu số thể hiện rõ việc thực hiện rất tốt chính sách dân tộc của Đảng. Lực lượng này có lợi thế tuyệt đối về hiểu biết ngôn ngữ, phong tục tập quán, địa bàn, gần dân, có thuận lợi hơn trong công tác tuyên truyền, vận động, thực thi chính sách và giữ vững an ninh chính trị ở địa phương cơ sở.

Tỷ lệ cán bộ bản địa (địa phương) giữ ở mức vừa phải (gần 20%), phần còn lại là cán bộ điều động từ nơi khác đến (chủ yếu từ cấp huyện trước sáp nhập về chiếm 59,7%). Cũng nên biết rằng, hầu hết cán bộ, công chức từ 6 huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam (Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Nam Trà My, Bắc Trà My) khi giải thể đều phân về địa bàn các xã thuộc địa phận quản lý của huyện cũ trước đây. Cho nên cán bộ thuộc diện này có thể không có quê quán, địa chỉ thường trú nơi công tác nhưng khá thông thuộc địa bàn, hiểu rõ đặc điểm, tình hình của địa phương nơi đảm nhiệm chức vụ.

Do đó, có thể nói, cơ cấu cán bộ, công chức ở 28 xã miền núi như trên giúp bộ máy vừa có sự thấu hiểu địa phương, vừa giúp nâng cao tính khách quan, công tâm, tránh được tình trạng “địa phương chủ nghĩa” hay “họ hàng, dòng tộc, dân tộc” thường gặp ở các xã vùng cao.

Hơn nữa, không có bí thư cấp ủy xã và chỉ có 2/28 chủ tịch Ủy ban nhân dân xã miền núi là người địa phương. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng bộ thành phố sớm hoàn thành mục tiêu đến năm 2030 có 100% phường, xã bố trí chức danh bí thư cấp ủy, chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra cấp ủy xã không phải là người địa phương theo quy định của Trung ương.

2. Trình độ đào tạo

2.1. Về lý luận chính trị

Theo thông kê Bảng 1, tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ Cao cấp lý luận chính trị áp đảo tuyệt đối: Có tới 186 người đạt trình độ Cao cấp lý luận chính trị, chiếm tỷ lệ 94,9%. Toàn bộ 100% cán bộ giữ các vị trí: bí thư đảng ủy (28/28), phó bí thư thường trực (28/28), và phó bí thư, chủ tịch Ủy ban nhân dân (28/28) đều có trình độ Cao cấp lý luận chính trị. Sự xuất hiện của trình độ Trung cấp lý luận chính trị rất ít, chỉ nằm rải rác ở vị trí chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (4 người), phó chủ tịch Hội đồng nhân dân (4 người), và phó chủ tịch Ủy ban nhân dân (2 người).

2.2. Về chuyên môn

2.2.1. Về trình độ đào tạo

Dựa vào Bảng 1, có thể thấy, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tại 28 xã miền núi có trình độ chuyên môn rất cao và được chuẩn hóa. Đạt chuẩn 100% từ Đại học trở lên: Trong tổng số 196 cán bộ, không có ai ở trình độ Trung cấp hay Cao đẳng. Thấp nhất là trình độ Đại học với 116 người (chiếm 59,2%).

Có tới 80 người đạt trình độ Thạc sĩ, chiếm tỷ lệ 40,8%. Đối với địa bàn cơ sở vùng miền núi, việc có gần 41% khối vị trí chủ chốt đạt trình độ sau đại học là một điểm sáng vượt trội. Đi vào cụ thể những con số thống kê trên, còn thấy những điểm nổi bật về trình độ đào tạo của cán bộ các xã miền núi. Có rất nhiều cán bộ có đến 2 bằng đại học, thậm chí có người học thạc sỹ ở nước ngoài.

Bảng 3: Trình độ chuyên môn của cán bộ cấp xã thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng quản lý của thành phố và xã miền núi

Số xã, phường

Tổng số cán bộ

Dưới 42 tuổi

Từ 42 đến 52 tuổi

Trên 52 tuổi

Tiến sĩ

Tỷ lệ %

Thạc sĩ

Tỷ lệ %

Đại học

Tỷ lệ %

Cấp xã TP

278

5

1,8

175

62,7

99

35,5

Xã miền núi

84

0

0

41

48,8

43

51,2

Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp từ danh sách của Ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng, tháng 4-2026 và Đề án số 03-ĐA/TU về đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phường, xã, đặc khu đến năm 2030 và những năm tiếp theo ngày 07-5-2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, tr.7.

Từ Bảng 3, cho thấy cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý, toàn thành phố có 5 Tiến sĩ (chiếm 1,8%), tập trung ở các phường, xã vùng đồng bằng, đô thị. Riêng khu vực 28 xã miền núi không có cán bộ nào có trình độ Tiến sĩ.

Khối 28 xã miền núi có 41 Thạc sĩ, chiếm tỷ lệ 48,8% tổng số cán bộ chủ chốt. Tuy nhiên, khi đặt trong hệ quy chiếu toàn thành phố, tỷ lệ Thạc sĩ chung lên tới 62,7% (175 người). Tỷ lệ này vẫn thấp hơn mức bình quân chung của thành phố gần 14%. Điều này cho thấy các phường, xã vùng trung tâm đô thị, đồng bằng vẫn có sức hút lớn hơn đối với đội ngũ cán bộ có trình độ sau đại học, hoặc điều kiện học tập nâng cao trình độ của cán bộ miền núi còn gặp một số rào cản về khoảng cách địa lý và thời gian bố trí công việc.

Cũng từ Bảng 3, ở 28 xã miền núi, trình độ Đại học có 43 người, chiếm tỷ lệ 51,2%. Trong khi đó, tỷ lệ này ở quy mô chung toàn thành phố chỉ là 35,5% (99 người). Khác với vùng đô thị, đồng bằng (nơi Thạc sĩ chiếm đa số), tại khối xã miền núi, lực lượng có trình độ Đại học vẫn là lực lượng cấu thành nòng cốt (chiếm trên một nửa).

Như vậy, so sánh với mặt bằng chung của thành phố cho thấy rằng chất lượng học vấn của cán bộ diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý tại 28 xã miền núi Đà Nẵng thuộc nhóm rất cao và toàn diện. Sự chênh lệch về tỷ lệ Thạc sĩ so với mặt bằng chung chỉ phản ánh tính đặc thù vùng miền, không phản ánh sự yếu kém về năng lực.

2.2.2.Về lĩnh vực được đào tạo

Xem Bảng 4:

 

 

Bảng 4: Thống kê lĩnh vực đào tạo của đội ngũ cán bộ cấp xã toàn thành phố và 28 xã miền núi của Đà Nẵng

 

Theo lĩnh vực đào tạo

Bí thư, chủ tịch HĐND

Phó BT thường trực

Phó bí thư, chủ tịch UBND

Chủ tịch MTTQVN

Phó chủ tịch HĐND

Phó chủ tịch UBND

Tổng số

Cấp xã TP

xã MN

Cấp xã TP

xã MN

Cấp xã TP

xã MN

Cấp xã TP

xã MN

Cấp xã TP

xã MN

Cấp xã TP

xã MN

Cấp xã TP

xã MN

Nhóm ngành xây dựng Đảng và Nhà nước...

21

10

19

7

17

3

16

8

19

7

27

7

119

42

23,1%

35,7%

20%

25%

18,3%

10,7%

17,4%

28,6%

20,9%

25%

15,3%

12,5%

18,7%

21,4%

Nhóm ngành công nghệ thông tin, tin học, công nghệ máy tính...

3

0

5

1

1

0

2

0

2

0

3

0

16

1

3,3%

0%

5,3%

3,6%

1,1%

0%

2,2%

0%

2,2%

0%

1,7%

0%

2,5%

0,5%

Nhóm ngành kinh tế, tài chính, kế toán...

24

3

30

4

32

6

27

5

24

2

55

13

192

33

26,4%

10,7%

31,6%

14,3%

34,4%

21,4%

29,3%

17,9%

26,4%

7,1%

31,3%

23,2%

30,1%

16,8%

Nhóm ngành môi trường, tài nguyên, nông nghiệp, lâm nghiệp...

4

1

5

4

8

5

6

3

10

4

22

9

55

26

4,4%

3,6%

5,3%

14,3%

8,6%

17,9%

6,5%

10,7%

11%

14,3%

12,5%

16,1%

8,6%

13,2%

Nhóm ngành giáo dục, y tế

6

3

6

6

5

2

3

1

5

1

9

4

34

23

6,6%

10,7%

6,3%

21,4%

5,4%

7,1%

3,3%

3,6%

5,5%

3,6%

5,1%

7,1%

5,3%

11,7%

Nhóm ngành xây dựng, đất đai, hạ tầng...

10

2

4

1

17

3

0

0

3

2

20

5

54

13

11%

7,1%

4,2%

3,6%

18,3%

10,7%

0%

0%

3,3%

7,1%

11,4%

8,9%

8,5%

6,6%

Nhóm ngành văn hóa, xã hội...

15

8

15

3

6

3

28

11

18

11

24

15

106

46

16,5%

28,6%

15,8%

10,7%

6,5%

10,7%

30,4%

39,3%

19,8%

39,3%

13,6%

26,8%

16,6%

23,5%

Khác

8

1

11

2

7

6

10

0

10

1

16

3

62

12

8,8%

3,6%

11,6%

7,1%

7,5%

21,4%

10,9%

0%

11%

3,6%

9,1%

5,4%

9,7%

6,3%

Số người được thống kê

91

28

95

28

93

28

92

28

91

28

176

56

638

196

100%

100%

100%

100%

100%

100%

100%

100%

100%

100%

100%

100%

100%

100%

Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp từ danh sách của Ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng, tháng 4-2026 và Đề án số 03-ĐA/TU về đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phường, xã, đặc khu đến năm 2030 và những năm tiếp theo ngày 07-5-2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, phần Phụ lục.

 

Qua Bảng 4, tính chung toàn thành phố, Nhóm ngành kinh tế, tài chính, kế toán chiếm tỷ lệ áp đảo với 30,1% (192 người). Ngược lại, cán bộ ở 28 xã miền núi bộc lộ đặc điểm chuyên môn tập trung vào ba nhóm chính: Văn hóa - Xã hội, Xây dựng Đảng – Nhà nước và Nông - Lâm nghiệp.

Nhóm ngành Văn hóa, xã hội chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số cán bộ miền núi với 23,5% (46 người), vượt qua nhóm ngành kinh tế. Tỷ lệ này đặc biệt lớn ở các vị trí làm công tác như chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (39,3%) và phó chủ tịch Hội đồng nhân dân (39,3%).

Nhóm ngành xây dựng Đảng và Nhà nước chiếm tới 21,4% (42 người). Ở vị trí đầu tàu là bí thư, chủ tịch Hội đồng nhân dân xã miền núi, tỷ lệ cán bộ đào tạo bài bản về Xây dựng Đảng và Nhà nước lên tới 35,7% (trong khi toàn thành phố là 23,1%). Đây là điểm mạnh để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành, củng cố hệ thống chính trị cơ sở tại vùng đồng bào thiểu số, vùng khó khăn.

Nhóm ngành môi trường, tài nguyên, nông - lâm nghiệp tại miền núi chiếm 13,2%, cao hơn nhiều so với mức 8,6% của thành phố. Lực lượng này phân bổ đậm đặc ở các vị trí điều hành như chủ tịch Ủy ban nhân dân (17,9%) và phó chủ tịch Ủy ban nhân dân (16,1%). Điều này đáp ứng yêu cầu thực tiễn về lãnh đạo phát triển kinh tế miền núi gắn liền với đất rừng, phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp và bảo vệ tài nguyên rừng.

Bên cạnh các điểm mạnh đặc thù, số liệu cũng vạch rõ những điểm yếu, thiếu hụt nhân lực lãnh đạo có chuyên môn sâu tại vùng cao:

Toàn bộ 196 cán bộ lãnh đạo, quản lý tại 28 xã miền núi chỉ có duy nhất 01 người (tỷ lệ 0,5%) được đào tạo về Công nghệ thông tin, tin học, công nghệ máy tính. Tất cả các vị trí chủ chốt khác (bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch) đều bằng 0%. Theo thống kê của Thành ủy Đà Nẵng, cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt phường, xã thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý: Cán bộ có trình độ khoa học, công nghệ 15 đồng chí, tỷ lệ 5,38%. Trong khi đó, cán bộ thuộc diện này ở 28 xã miền núi có 1 người, tỷ lệ 1,2%. Đây là một thách thức lớn đối với mục tiêu xây dựng chính quyền số và cải cách hành chính tại cơ sở.

Tỷ lệ cán bộ có chuyên môn kinh tế, tài chính ở 28 xã miền núi chỉ bằng một nửa so với toàn thành phố (16,8% so với 30,1%). Nhìn sâu vào chức danh phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã miền núi, tỷ lệ này tụt xuống mức rất thấp là 7,1% (so với 26,4% của thành phố).

Có thể nói, lĩnh vực đào tạo của cán bộ 28 xã miền núi hiện nay nặng về chính trị, văn hóa, giáo dục (chiếm tổng cộng 56,6% bộ máy) nhưng lại thiếu các ngành kỹ thuật và quản trị (kinh tế, hạ tầng, công nghệ thông tin).

Tóm lại, từ sự so sánh từng chức danh, có thể rút ra 3 nhận xét về lĩnh vực đào tạo của cán bộ 28 xã miền núi đặc biệt khó khăn của Đà Nẵng:

- Thế mạnh tuyệt đối về Khoa học Xã hội và Nhân văn: Tổng số cán bộ miền núi có chuyên môn về Văn hóa - xã hội (23,5%) và Xây dựng Đảng (21,4%) đều cao hơn rõ rệt so với bình quân toàn thành phố. Điều này mang lại lợi thế lớn trong công tác dân vận, ổn định chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và bảo tồn văn hóa vùng đồng bào thiểu số.

- Tỷ lệ cán bộ am hiểu về Môi trường, tài nguyên, nông - lâm nghiệp toàn khối miền núi đạt 13,2%, cao hơn hẳn so với mức (8,6%) toàn thành phố. Yếu tố này giúp bộ máy lãnh đạo miền núi quản lý tốt hơn tài nguyên rừng và phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp tại chỗ.

- Tỷ lệ cán bộ có chuyên môn về Kinh tế - tài chính toàn khối miền núi chỉ đạt (16,8%) (bằng gần một nửa so với mức (30,1%) của toàn thành phố). Đặc biệt, toàn bộ 196 cán bộ lãnh đạo chủ chốt miền núi chỉ có duy nhất 1 người có chuyên môn về Công nghệ thông tin/Tin học (0,5%)  so với (2,5%) toàn thành phố. Đây sẽ là rào cản rất lớn cho các xã miền núi trong việc thúc đẩy chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số và thu hút, quản lý các dự án đầu tư kinh tế quy mô lớn trong tương lai.

3. Đặc điểm

Từ sự phân tích về cơ cấu, chất lượng đội ngũ cán bộ 28 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn của thành phố Đà Nẵng, có thể nêu ra các đặc điểm sau:

Thứ nhất, khối xã miền núi đang đối mặt với áp lực lớn khi nhóm cán bộ trên 52 tuổi thuộc diện quản lý chiếm tới 28,6% (cao hơn mặt bằng chung thành phố gần 10%). Ngược lại, cán bộ trẻ dưới 42 tuổi diện quản lý chỉ đạt 7,1%, chưa đáp ứng được mức tối thiểu 15% theo Quy định số 377-QĐ/TW của Bộ Chính trị, dẫn đến nguy cơ hụt hẫng đội ngũ kế cận trong tương lai gần.

Thứ hai, nam giới chiếm tỷ lệ áp đảo với 82,6%. Tỷ lệ cán bộ nữ diện quản lý tại miền núi rất thấp, chỉ đạt 15,5% (thấp hơn mức 20% chung của thành phố) và hoàn toàn vắng bóng (0%) ở vị trí điều hành trực tiếp như chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.

Thứ ba, 100% cán bộ đạt chuẩn từ Đại học trở lên (40,8% trình độ Thạc sĩ) và 94,9% có trình độ Cao cấp lý luận chính trị. Tuy nhiên, lĩnh vực đào tạo bị lệch pha khi nặng về chính trị, văn hóa, giáo dục (56,6%); mảng Kinh tế - tài chính chỉ chiếm 16,8% và đặc biệt mảng Công nghệ thông tin/Tin học gần như bằng 0 (chỉ có 1 người, chiếm 0,5%).

Thứ tư, cán bộ người dân tộc thiểu số chiếm 44,9%, phát huy tốt lợi thế ngôn ngữ và phong tục vùng cao. Tính bản địa được kiểm soát chặt chẽ khi phần lớn là cán bộ điều động từ huyện cũ trước giải thể được phân về xã mới (59,7%); hoàn toàn không có bí thư và chỉ có 2/28 chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là người địa phương, giúp bộ máy vận hành công tâm, tránh cục bộ địa phương, dân tộc.

4. Gợi ý giải pháp

Thứ nhất, cơ quan chức năng của thầnh phố cần xây dựng đề án với cơ chế riêng mang tính đặc thù trong thu hút, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho các xã miền núi đặc biệt khó khăn. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho cán bộ trẻ dưới 42 tuổi, từ đó chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, tránh xảy ra khoảng trống thế hệ.

Thứ hai, Ban Thường vụ Thành ủy cần sớm ban hành chính sách đãi ngộ cho cán bộ nữ công tác tại vùng cao (phụ cấp thu hút, hỗ trợ đi lại...). Đồng thời, kiên quyết giao chỉ tiêu, thực hiện luân chuyển, điều động cán bộ nữ có năng lực nắm giữ các chức danh lãnh đạo chủ chốt mảng chính quyền (Phó chủ tịch, chủ tịch Ủy ban nhân dân xã).

Thứ ba, ưu tiên luân chuyển cán bộ trẻ, xuất sắc từ cấp thành phố hoặc các xã đồng bằng, đô thị có chuyên môn sâu về Công nghệ thông tin, Khoa học dữ liệu, Quản lý tài chính công, Kinh tế đầu tư... về giữ chức danh chủ chốt tại miền núi để xóa “vùng trũng” công nghệ (hiện là 0,5%). Song song đó, tổ chức các khóa huấn luyện, bồi dưỡng ngắn hạn về kỹ năng quản trị công, điều hành chính quyền số cho số cán bộ hiện tại.

Thứ tư, tiếp tục duy trì và cử cán bộ có chuyên môn về Xây dựng Đảng, Nông - Lâm nghiệp bám sát cơ sở để phát huy thế mạnh đội ngũ này. Đồng thời, đẩy mạnh luân chuyển cán bộ từ nơi khác đến để sớm hoàn thành mục tiêu có 100% xã bố trí các chức danh chủ chốt không phải là người địa phương.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thành ủy Đà Nẵng (2025), Nghị quyết số 01-NQ/ĐH, ngày 19/9/2025 của Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2025 – 2030.

2. Thành ủy Đà Nẵng (2026), Đề án số 03-ĐA/TU, ngày 07/5/2026 về đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phường, xã, đặc khu đến năm 2030 và những năm tiếp theo.

3. Thành ủy Đà Nẵng (2026), Nghị quyết số 14-NQ/TU, ngày 07/5/2026 về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phường, xã, đặc khu thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 và những năm tiếp theo.

4. Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng (2026), Quyết định 230/QĐ-UBND, ngày 13/01/2026 công bố danh sách xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã khu vực I, II, III giai đoạn 2026 – 2030.

5. Thống kê thông tin cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý của các xã: Khâm Đức, Trà Liên, Trà Giáp, Trà Tân, Trà Đốc, Nam Trà My, Trà Tập, Trà Vân, Trà Linh, Trà Leng, Bến Giằng, Đắc Pring, La Êê, Đông Giang, Tây Giang, Hùng Sơn, Avương, Phước Năng, Phước Hiệp, Thạnh Mỹ, La Dêê, Bến Hiên, Phước Thành, Phước Trà, Phước Chánh, Sông Vàng, Nam Giang và Sông Kôn, Lưu tại Ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng, tháng 4 năm 2026.

6. Bộ Chính trị (2025), Quy định số 377-QĐ/TW, ngày 08/10/2025 về phân cấp quản lý cán bộ và quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, tạm đình chỉ công tác, cho thôi chc vụ, từ chức, miễn nhiệm đối với cán bộ.

Tác giả: ThS. Trần Thị Thiện, Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng

Nguồn tin: Sở Dân tộc và Tôn giáo

Các tin cũ hơn:

Thông tin người phát ngôn

Ông: Nguyễn Mạnh Hà

Chức vụ: UVBTV-Giám đốc Sở

Số điện thoại: 0982707997

Email: nguyenmanhha@danang.gov.vn

Văn bản công tác dân tộc

Liên Kết Website

Thăm dò ý kiến

Bạn cảm thấy website của chúng tôi như thế nào ?

Lượt truy cập

Tổng số lượt truy cập

000072296