Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi là nhiệm vụ chiến lược để nâng cao đời sống Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Với 37 xã vùng DTTS và miền núi trên tổng số 94 xã, phường, đặc khu - chiếm 3/4 diện tích thành phố cùng 157,42 km đường biên giới tiếp giáp Lào - Đà Nẵng đang đứng trước một “bài toán” phát triển lớn với nhiều yêu cầu mới cho vùng đồng bào DTTS và miền núi. Bài viết phân tích thực tiễn, nhận diện điểm nghẽn và đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm giải bài toán này, góp phần xây dựng Đà Nẵng hiện đại, giàu bản sắc, cùng cả nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
1. Tính cấp thiết phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi
Theo Nghị quyết số 24-NQ/TW (khóa IX) của Đảng về công tác dân tộc, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi phải tập trung phát triển hạ tầng giao thông và xóa đói giảm nghèo. Định hướng này yêu cầu khai thác hiệu quả tiềm năng địa phương đi đôi với bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát huy nội lực bản địa với thu hút nguồn lực hỗ trợ bên ngoài. Đặc biệt, quá trình phát triển ấy không tách rời nhiệm vụ củng cố hệ thống chính trị cơ sở, tăng cường an ninh - quốc phòng và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.
Để thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026–2035 đã xác định các mốc chiến lược rõ ràng. Cụ thể, hướng tới xóa bỏ cơ bản các xã, thôn đặc biệt khó khăn vào năm 2030; tới năm 2045, phấn đấu cắt giảm tối thiểu 50% số xã, thôn khó khăn trên toàn quốc, tới xây dựng 05 tỉnh, thành phố vùng DTTS và miền núi hoàn toàn không còn địa bàn khó khăn.
Đối với Đà Nẵng, vùng đồng bào DTTS và miền núi giữ vị trí chiến lược khi chiếm tới 3/4 diện tích toàn thành phố và trải dài trên 157,42 km đường biên giới tiếp giáp nước Lào. Thành phố hiện có khoảng 161.251 đồng bào DTTS sinh sống (chiếm 5,5% dân số thành phố), thuộc 4 nhóm dân tộc chính là Cơ Tu, Co, Xê Đăng và Gié Triêng. Không chỉ đóng vai trò là “lá phổi xanh”, nguồn cấp nước và không gian sinh thái cốt lõi của Đà Nẵng, khu vực này còn sở hữu tiềm năng lớn về phát triển du lịch cộng đồng, kinh tế dưới tán rừng, dược liệu và nông nghiệp công nghệ cao.
Tuy nhiên, đây vẫn là vùng lõi khó khăn nhất của thành phố với tỷ lệ hộ nghèo cao, giao thông chia cắt và thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ. Theo phân loại giai đoạn 2026–2030, Đà Nẵng hiện có 420 thôn vùng đồng bào DTTS và miền núi, 230 thôn đặc biệt khó khăn; 37 xã vùng đồng bào DTTS và miền núi (5 xã khu vực I, 4 xã khu vực II và 28 xã khu vực III) giai đoạn 2026-2030.
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là yêu cầu hết sức cấp thiết. Bằng việc phát huy tối đa lợi thế tiềm năng địa phương và tinh thần tự lực của đồng bào, thành phố không chỉ từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, mà còn củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Đây chính là nền tảng cốt lõi để xây dựng “lá chắn” an ninh vững chắc bảo vệ chủ quyền quốc gia, hướng tới sự phát triển toàn diện và bền vững của thành phố.
2. Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi của thành phố Đà Nẵng
Trong giai đoạn 2021–2025, để thực hiện hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia tại vùng đồng bào DTTS và miền núi, Quảng Nam (cũ) và Đà Nẵng (cũ) xác định công tác cán bộ và nhận thức của người dân là nhiệm vụ quan trọng. Do đó, hai địa phương đã đẩy mạnh tuyên truyền, bồi dưỡng năng lực nhằm chuyển hóa tư duy thành hành động thực tiễn. Song song với đó, quy trình kiểm tra, giám sát được duy trì chặt chẽ và xuyên suốt theo hệ thống tiêu chí, công cụ chuẩn hóa của các bộ, ngành.
Trước sáp nhập, công tác triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia tại Quảng Nam (cũ) và Đà Nẵng (cũ) đã ghi nhận nhiều kết quả ấn tượng. Đối với Quảng Nam (cũ), tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước bố trí cho 03 chương trình mục tiêu quốc gia đạt hơn 9.206 tỷ đồng; tính đến tháng 6/2025 đã giải ngân 73% (tương đương 6.708,9 tỷ đồng). Trong đó, Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt bứt phá với 6/9 nhóm chỉ tiêu hoàn thành vượt mức và 1/9 nhóm chỉ tiêu cơ bản đạt. Tính đến cuối năm 2024, toàn tỉnh còn 28.227 hộ nghèo và cận nghèo (chiếm tỷ lệ 6,35%); đồng thời ghi nhận 133 xã đạt chuẩn nông thôn mới tính đến giữa năm 2025. Trong khi đó, Đà Nẵng (cũ) tập trung ngân sách địa phương phủ rộng khắp các địa bàn miền núi với trọng tâm là hạ tầng, nhà ở, sinh kế, y tế và giáo dục. Nhờ các mô hình giảm nghèo linh hoạt, thành phố đã xóa hoàn toàn hộ nghèo theo chuẩn Trung ương vào năm 2024 (chỉ còn 49 hộ nghèo theo chuẩn riêng của thành phố) và có 11/11 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Theo cách tính tạm thời của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Đà Nẵng (mới) đã có 41 xã đạt chuẩn nông thôn mới (đạt tỷ lệ 58,5%). Bên cạnh các chính sách chung, cả hai địa phương trước đây đều chủ động lồng ghép nhiều cơ chế đặc thù như: hỗ trợ người có uy tín, xóa nhà tạm/dột nát và cấp bảo hiểm y tế miễn phí cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Sau sáp nhập, thành phố tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt và tập trung nguồn lực lớn cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Hàng loạt mô hình sinh kế như trồng cây dược liệu, cây nguyên liệu và chăn nuôi đặc sản được nhân rộng; hộ nghèo, cận nghèo được tiếp cận kịp thời với nguồn vốn vay ưu đãi và vật tư sản xuất. Mạng lưới an sinh xã hội cũng chuyển biến mạnh mẽ thông qua việc nâng cấp các trạm y tế vùng cao, tăng tốc xây dựng 06 trường phổ thông liên cấp theo Thông báo số 81-TB/BCT tại 06 xã biên giới, cùng công tác đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, phòng chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống,….
Với vai trò cơ quan chủ quản, Sở Dân tộc và Tôn giáo đã bám sát địa bàn, phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành tham mưu UBND thành phố tháo gỡ kịp thời các vướng mắc phát sinh. Các chính sách hỗ trợ đột xuất cho đồng bào bị ảnh hưởng bởi thiên tai, hỏa hoạn, ốm đau nặng được triển khai nhanh chóng, song song với việc hướng dẫn địa phương thực hiện đồng bộ các dự án. Bên cạnh đó, các xã miền núi đã quyết liệt kiện toàn bộ máy hành chính theo mô hình chính quyền mới, đồng thời gắn kết chặt chẽ công tác dân tộc với quốc phòng - an ninh, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để phát sinh các vụ việc phức tạp trên địa bàn.
3. “Bài toán” đặt ra cho thành phố
Trước yêu cầu phát triển của thành phố trong giai đoạn mới, thực tiễn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Đà Nẵng đang đặt ra nhiều “bài toán” cốt lõi cần được giải quyết đồng bộ để bảo đảm phát triển bền vững:
Thứ nhất về nhận thức, tâm lý thụ động, trông chờ, ỉ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức xã hội vẫn còn tồn tại ở một bộ phận người dân.
Thứ hai về hạ tầng, kết cấu chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất cũng như nâng cao đời sống dân sinh.
Thứ ba về an sinh, tỷ lệ hộ nghèo miền núi còn ở mức cao, nguy cơ tái nghèo lớn và kết quả thoát nghèo thiếu tính bền vững.
Thứ tư về con người, chất lượng nguồn nhân lực của địa phương và năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ cơ sở tại một số địa phương còn hạn chế.
Thứ năm về công nghệ, việc ứng dụng chuyển đổi số vào phát triển kinh tế - xã hội cấp xã chưa thực sự đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả rõ nét.
Thứ sáu về tiềm năng, nhiều thế mạnh đặc thù và tài nguyên phát triển của vùng miền núi vẫn chưa được khai thác tối đa.
4. Một số giải pháp thúc đẩy phát triển nhanh kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi của thành phố
Để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi bền vững, Đà Nẵng cần triển khai đồng bộ 5 nhóm giải pháp cơ bản sau:
Một là, đẩy mạnh tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân về phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh vùng đồng bào DTTS và miền núi; trọng tâm là xóa bỏ tâm lý trông chờ, khơi dậy ý chí tự lực và tinh thần chủ động vươn lên của bà con.
Hai là, quy hoạch đồng bộ không gian dân cư gắn với quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai, khoáng sản; đẩy mạnh các dự án nông - lâm nghiệp sinh thái và du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa để tạo việc làm, giúp người dân làm giàu bền vững từ nghề rừng.
Ba là, ưu tiên nguồn lực hoàn thiện hệ thống giao thông, y tế, giáo dục, viễn thông; bảo đảm 100% hộ dân vùng sâu, vùng xa được tiếp cận điện, nước sạch, hạ tầng số và các dịch vụ cơ bản.
Bốn là, xây dựng cơ chế thu hút cán bộ trẻ, nhân tài trong lĩnh vực khoa học - công nghệ và chuyển đổi số về công tác; song song với việc luân chuyển, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt và nâng cao chất lượng lao động DTTS tại chỗ.
Năm là, nâng cao năng lực quản trị và chuyển đổi số của địa phương trong tình hình mới đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát hiệu quả thực thi các chương trình, dự án.
Kết luận
Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện, bền vững của thành phố Đà Nẵng. Mặc dù đối mặt với nhiều điểm nghẽn về hạ tầng, chất lượng nhân lực và tỷ lệ hộ nghèo, thành phố vẫn sở hữu tiềm năng lớn về kinh tế rừng và văn hóa bản địa. Để tạo bước chuyển biến đột phá trong giai đoạn mới, Đà Nẵng cần giải quyết đồng bộ các bài toán thực tiễn thông qua việc nâng cao tinh thần tự lực của người dân, hoàn thiện quy hoạch hạ tầng và đẩy mạnh chuyển đổi số. Sự quyết tâm của chính quyền cùng sự đồng lòng của đồng bào các dân tộc sẽ là chìa khóa củng cố khối đại đoàn kết, bảo vệ vững chắc an ninh biên giới và đưa Đà Nẵng vươn mình phát triển hiện đại, giàu bản sắc, cùng cả nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.BCH TW Đảng (khóa IX), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003, về công tác dân tộc;
2.Chính phủ, Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045;
3.Quốc hội, Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026-2035;
4.UBND thành phố Đà Nẵng, Quyết định số 230/QĐ-UBND ngày 13/01/2026 phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn, cùng các xã khu vực I, II, III trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026-2030;
5.UBND thành phố Đà Nẵng, Báo cáo số 349/BC-UBND ngày 1/12/2025 tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh giai đoạn 2021-2025, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh giai đoạn 2026-2030 thành phố Đà Nẵng./.
UBND thành phố Đà Nẵng, Quyết định số 230/QĐ-UBND ngày 13/01/2026 phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn, cùng các xã khu vực I, II, III trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026 – 2030;